Câu chuyện tương tự xảy ra đối với tất cả các cơn sốt “công nghệ cao”

Hơn nữa, công nghệ cao thường không sinh lời trong suốt một thời gian dài. Ngành công nghiệp máy vi tính thế giới bắt đầu vào khoảng năm 1947 hay 1948, nhưng phải đến đầu thập niên 1980, tức là hơn ba mươi năm sau, toàn ngành mới đạt mức hòa vốn. Tất nhiên, một số doanh nghiệp (hầu hết đều ở Mỹ) bắt đầu sinh lời sớm hơn nhiều, chẳng hạn như IBM. Nhưng song song với mức lợi nhuận kỷ lục của một vài nhà sản xuất máy vi tính thành công là mức thua lỗ đáng sợ của số còn lại, trong đó đáng kể nhất là những khoản lỗ khổng lồ mà một số công ty điện tử toàn cầu gây ra trong nỗ lực kệch cỡm trở thành nhà sản xuất máy vi tính.

Câu chuyện tương tự xảy ra đối với tất cả các cơn sốt “công nghệ cao” khác trong quá khứ: cơn sốt đường sắt đầu thế kỷ XIX, cơn sốt thiết bị điện tử và ô tô giai đoạn từ năm 1980 đến 1914, điện gia dụng và máy phát thanh thập niên 1920…

di-tim-nguyen-nhan-that-bai-trong-kinh-doanh-nha-hang-3

Câu chuyện tương tự xảy ra đối với tất cả các cơn sốt “công nghệ cao”

Một trong những nguyên nhân dẫn đến giai đoạn không sinh lời này là công nghệ cao đòi hỏi người khởi nghiệp phải liên tục rót vốn vào việc tái nghiên cứu, nâng cao kỹ thuật và trau dồi dịch vụ để có thể trụ lại trong cuộc chơi. Có thể nói người khởi nghiệp công nghệ cao phải chạy thật nhanh nếu muốn đứng vững.

Một mặt, sự cạnh tranh này càng khiến công nghệ cao thêm phần hấp dẫn. Chỉ tiếc rằng đến khi việc chấn chỉnh diễn ra, sẽ chỉ một vài doanh nghiệp trong ngành có đủ nguồn lực tài chính để sống sót. Đây là nguyên nhân tại sao công nghệ cao còn đòi hỏi tầm nhìn tài chính gắt gao hơn những khu vực khác. Nghịch lý ở chỗ, công nghệ cao lại thường là lĩnh vực khan hiếm tầm nhìn tài chính nhất.